


Trong tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ gia tăng về quy mô mà còn ngày càng khẳng định vai trò là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập đó là nguy cơ hiện hữu về sự mai một tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc qua các thế hệ. Thực tiễn triển khai công tác dạy và học tiếng Việt ở nước ngoài cho thấy, đây không đơn thuần là một nhiệm vụ văn hóa – giáo dục, mà là vấn đề mang tính chiến lược lâu dài, gắn trực tiếp với sức mạnh mềm, nguồn lực con người và vị thế quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Ông Nguyễn Hoài Bắc - Phó Chủ tịch Hội Doanh nhân Việt Nam tại Canada, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết, thực tế, có những người con gốc Việt đã cách xa cha mẹ, xa cả quê hương và cội nguồn trong một thời gian dài; thậm chí có những người trẻ còn chưa từng một lần đặt chân trở về Việt Nam. Chính vì vậy, nếu muốn xây dựng và phát triển tình cảm tốt đẹp với quê hương đất nước trong thế trẻ người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay và xa hơn nữa, điều tiên quyết là phải “ươm mầm” – ươm mầm trong trái tim của những người Việt Nam xa xứ, đặc biệt là những người được sinh ra và lớn lên tại các quốc gia sở tại.

Việc “ươm mầm”, theo ông Nguyễn Hoài Bắc cần được đặt trên ba trụ cột cơ bản. Thứ nhất là cội nguồn. Thứ hai là văn hóa. Và thứ ba chính là tiếng Việt bởi tiếng Việt là sợi dây bền chặt gắn kết hàng triệu trái tim người Việt ở khắp muôn nơi với nhau và với quê hương Việt Nam.
Thực tế cho thấy, công tác gìn giữ và lan tỏa tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước. Điều này được thể hiện qua các chủ trương, chính sách hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn bản sắc và ngôn ngữ dân tộc; qua các chuyến thăm, tặng sách, động viên kiều bào cũng như tập huấn giáo viên và ứng dụng công nghệ trong giảng dạy...

Năm 2022, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2023-2030”. Đề án góp phần khơi dậy niềm tự hào, tình yêu tiếng mẹ đẻ và đưa phong trào học tiếng Việt trở thành hoạt động bền vững, rộng khắp.
Ông Nguyễn Hoài Bắc nói: “Theo quan điểm của tôi, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là bảo tồn và gìn giữ tiếng Việt, từng bước phổ cập việc dạy và học tiếng Việt cho con em các thế hệ thứ hai, thứ ba và các thế hệ tiếp theo”.
So với giai đoạn trước, điều kiện khách quan cho việc dạy và học tiếng Việt ở nước ngoài hiện nay đã thuận lợi hơn đáng kể. Sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội và các nền tảng số cho phép vượt qua những giới hạn truyền thống về không gian, thời gian, chi phí và nhân lực. Nếu như trước kia, việc tổ chức các lớp học tiếng Việt chủ yếu dựa vào mô hình tập trung, đòi hỏi hệ thống giáo trình, giáo viên và cơ chế tổ chức phức tạp, thì nay việc triển khai các lớp học trực tuyến, học liệu số, nội dung mở đã trở thành khả năng hiện hữu.
Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở việc thiếu điều kiện, mà ở chỗ những lợi thế sẵn có vẫn chưa được khai thác và phát huy tương xứng. Các nguồn lực học liệu, giáo trình, sáng kiến cộng đồng tuy đã hình thành nhưng còn phân tán, thiếu sự kết nối và phát động ở quy mô đủ lớn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng trong nước, không chỉ ở vai trò định hướng chủ trương mà còn trong tổ chức thực thi, điều phối và nhân rộng các mô hình hiệu quả.

Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, khó khăn lớn nhất trong việc giữ tiếng Việt không phải là sự thờ ơ với cội nguồn, mà là sự thiếu vắng môi trường sử dụng tiếng Việt thường xuyên trong đời sống hàng ngày. Trẻ em người Việt sinh ra và lớn lên ở nước ngoài chủ yếu học tập, sinh hoạt trong môi trường ngôn ngữ sở tại, với lịch trình học tập dày đặc, khiến tiếng Việt khó có thể trở thành một ưu tiên tự nhiên.
Bà Hanah Huyền Vũ, Chủ tịch Mạng lưới Tài năng Việt-Australia, Giám đốc đối ngoại Đại học Tây Australia chỉ ra thách thức lớn nhất là môi trường sống và học tập ở nước ngoài khiến tiếng Việt không phải ngôn ngữ ưu tiên, trong khi lịch trình học tập của trẻ rất nặng. Nếu chỉ kêu gọi “giữ tiếng Việt” bằng tình cảm, nhiều gia đình sẽ khó duy trì lâu dài.
Ở các quốc gia đa văn hóa, đa ngôn ngữ như Singapore hay Nhật Bản, công tác dạy tiếng Việt còn chịu tác động mạnh từ các yếu tố pháp lý và hệ thống giáo dục sở tại. Học sinh phải học song ngữ hoặc đa ngữ, trong đó không có tiếng Việt, tạo áp lực lớn về thời gian và năng lực tiếp nhận.
“Việc tổ chức các lớp dạy tiếng Việt cho trẻ em tại Singapore cũng gặp nhiều khó khăn do đặc thù giáo dục của nước sở tại. Ở trường, các cháu đã phải học song ngữ, chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Trung. Điều này tạo ra áp lực không nhỏ, khiến việc học thêm tiếng Việt trở nên rất khó khăn”, bà Tạ Thùy Liên - Trưởng ban liên lạc Cộng đồng người Việt Nam tại Singapore chia sẻ.

Theo bà Liên, tại Singapore, trong điều kiện pháp lý đặc thù không cho phép người nước ngoài thành lập hội, các hoạt động dạy, học tiếng Việt chủ yếu được duy trì nhờ mô hình tổ chức cộng đồng phi lợi nhuận (ban liên lạc cộng đồng) và sự tự nguyện của phụ huynh, trí thức.
“Khó khăn lớn nhất không phải là thế hệ trẻ người Việt ở nước ngoài thiếu tình cảm với quê hương, mà là thiếu môi trường sử dụng tiếng Việt thường xuyên”, ông Nguyễn Duy Anh, Ủy viên ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc - Chủ tịch danh dự Hội người Việt tại Fukuoka (Nhật Bản) có chung quan điểm.
Trong bối cảnh đó, tiếp cận tiếng Việt như một “môn học” đơn lẻ sẽ khó tạo được sự gắn bó lâu dài. Ngược lại, những mô hình gắn việc dạy tiếng Việt với các hoạt động văn hóa – đời sống như lễ Tết, Trung thu, Giỗ Tổ, kể chuyện lịch sử, dân gian, hát dân ca, ẩm thực truyền thống đã cho thấy hiệu quả rõ nét. Cách tiếp cận này giúp ngôn ngữ không chỉ được học, mà được “sống”, được cảm nhận bằng cảm xúc và trải nghiệm, qua đó hình thành mối liên kết bền chặt giữa thế hệ trẻ với bản sắc dân tộc.


Bảo tồn tiếng Việt không thể tách rời bài toán nguồn lực con người trong bối cảnh phát triển của đất nước. Khi Việt Nam đang tiến dần tới giai đoạn kết thúc dân số vàng, yêu cầu nâng cao năng suất lao động và chất lượng nguồn nhân lực trong nước trở nên cấp thiết. Thu hút người Việt Nam ở nước ngoài trở về làm việc, lập nghiệp ngày càng khả thi nhờ thủ tục được đơn giản hóa và sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, quá trình này chỉ thực sự bền vững khi thế hệ người Việt ở nước ngoài còn giữ được tiếng Việt, văn hóa và sự gắn bó với quê hương.
Để đáp ứng yêu cầu này, từ tổng kết thực tiễn, có thể thấy rằng việc giữ gìn tiếng Việt chỉ có thể đạt hiệu quả lâu dài khi được đặt trên nền tảng của ba trụ cột mang tính bổ trợ lẫn nhau.

Đại sứ Nguyễn Phú Bình - Chủ tịch Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao chia sẻ: “Bên cạnh những biện pháp mang tính truyền thống như đào tạo, tập huấn đội ngũ giáo viên, hay cung cấp sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy, chúng ta còn có nhiều công cụ và biện pháp đa dạng khác. Ví dụ, hội của chúng tôi có một hướng vận động là tổ chức các hoạt động, cuộc thi tiếng hát Việt Nam với thông điệp ‘Tôi yêu tiếng nước tôi’, qua đó giúp thế hệ trẻ ở nước ngoài học tiếng Việt thông qua bài hát, dân ca Việt Nam; hoặc dạy tiếng Việt thông qua truyện cổ tích, những câu chuyện dân gian quen thuộc…

Hiện nay, các biện pháp này rất phong phú; chỉ cần chúng ta mở ‘nguồn cung’ tốt, thì mạng xã hội và internet sẽ mang lại cho chúng ta rất nhiều tiện ích để có thể khai thác và phát huy hiệu quả hơn”.
Chia sẻ kinh nghiệm về việc gìn giữ và lan tỏa tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở địa bàn, ông Nguyễn Duy Anh nói: “Chúng tôi xác định việc bảo tồn tiếng Việt phải đi cùng với xây dựng hệ sinh thái văn hóa, nơi tiếng Việt được sử dụng trong đời sống, trong sinh hoạt cộng đồng và trong các hoạt động văn hóa gắn với gia đình. Từ thực tiễn đó, chúng tôi đã chủ động xây dựng Mạng lưới Giảng dạy tiếng Việt và Văn hóa Việt, kết nối các lớp học cộng đồng, giáo viên, tình nguyện viên tại nhiều quốc gia, nhằm chia sẻ giáo trình, phương pháp giảng dạy và kinh nghiệm tổ chức lớp học.
Bên cạnh các lớp học trực tiếp, mạng lưới cũng hướng tới số hóa học liệu, xây dựng lớp học trực tuyến và tổ chức tập huấn sư phạm cho giáo viên cộng đồng, để tiếng Việt có thể đến với những gia đình ở xa trung tâm hoặc chưa có điều kiện học tập thường xuyên.
“Chúng tôi mong muốn tiếng Việt không chỉ được “dạy”, mà được nuôi dưỡng trong đời sống, trở thành sợi dây bền chặt gắn kết thế hệ trẻ người Việt ở nước ngoài với cội nguồn dân tộc”, ông Nguyễn Duy Anh nhấn mạnh.


Tác giả: Đặng Khanh, Hùng Cường, Kiều Anh, Diệp Thảo/VOV.VN
Bình luận của bạn đang được xem xét
Hộp thư thoại sẽ đóng sau 4s