Trồng rừng ở Tây Nguyên: Lợi ích phải hài hòa

Mặc dù có quỹ đất rộng lớn để phát triển rừng, nhưng trong 10 năm qua, trung bình mỗi năm Đắc Lắc chỉ trồng được 3.150 héc ta. Khó khăn về vốn, lợi nhuận không đủ hấp dẫn và phải chờ đợi lâu (6-10 năm) là những nguyên nhân khiến tiến độ trồng rừng đạt thấp.

Ngành sản xuất đồ gỗ, sản xuất giấy của Việt Nam tăng trưởng vượt bậc trong những năm qua đã làm thay đổi tình thế. Nhu cầu nguyên liệu tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp trong nước coi Tây nguyên nói chung và Đắc Lắc nói riêng, là vùng nguyên liệu trọng yếu. 

Trồng rừng- sướng như vua

Ngoài các dự án trồng rừng của riêng mình, Tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành đã mua lại nhiều rừng của các doanh nghiệp tại Đắc Lắc, Đắc Nông và Gia Lai. Công ty Giấy Tân Mai đã trở thành chủ của hàng chục nghìn ha rừng nguyên liệu giấy tại Kon Tum và nhiều dự án khác tại Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng. Công ty Tân Phước Thịnh (Bình Định) cũng vừa thành lập chi nhánh tại Đắc Lắc, với mục tiêu phát triển 12 nghìn héc ta rừng nguyên liệu trong những năm tới tại các tỉnh Tây Nguyên.  

“Trồng rừng bây giờ là siêu lợi nhuận”- ông Hà Công Bình, Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp Đắc Lắc nhận định. “Các công ty lâm nghiệp ở Đắc Lắc bây giờ sướng như vua. Nếu có 7 đến 8 nghìn héc ta rừng, doanh nghiệp có thể thực hiện vòng tròn khép kín: khai thác-trồng-khai thác mỗi năm 1000 ha, thu về gần trăm tỷ đồng”. 

Sức hấp dẫn mới từ rừng trồng khiến Đắc Lắc có đủ tự tin để đưa ra mục tiêu nâng gấp đôi tiến độ trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, nghĩa là mỗi năm sẽ trồng khoảng 6.000 héc ta.  

Đơn độc thì thiệt thòi

Thực tế cho thấy ở Tây Nguyên không thiếu những cá nhân tâm huyết với nghiệp trồng rừng, nhưng rất thiếu những mô hình thành công.  

Cách đây 8 năm, ông Lê Ngọc Hùng, ở xã Đắc N’Jót, huyện Đắc Min (Đắc Lắc, nay là Đắc Nông), là người tiên phong đưa cây Paulownia trồng thành rừng, trên diện tích 6 héc ta của gia đình. Theo các tài liệu hướng dẫn, Paulownia được coi là “cây tiền”, “cây thần tài”, với giá trên thị trường thế giới 600-800 USD/1 m3 . Thế nhưng, sau 7 năm trồng, ông Hoà chỉ bán được với giá 2,5 triệu đồng/1m3. Tính ra, ông Hùng đã bị thiệt đến 3 tỷ rưỡi đồng. Thất vọng, ông đào bỏ gốc “cây tiền” để chuyển sang trồng cao su, dù loại cây này có thể tái sinh thêm 2 chu kỳ khai thác nữa. Ông Hùng rút ra kết luận: nếu không có đơn vị đảm bảo đầu ra, sản xuất kinh doanh tự phát, thì sản phẩm gỗ rừng cũng sẽ bị ép giá, giống như các sản phẩm nông nghiệp khác.  

Chuyện tương tự cũng xảy ra tại huyện Đức Trọng và Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng khi không ít hộ dân mạnh dạn trồng cây Paulownia, nhưng đến nay- sau 6 năm vẫn chưa tìm được đầu ra thoả đáng. 

Với bà con dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn, tình thế càng nan giả hơn, vì nguồn hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng này chỉ có 2 triệu đồng/1ha, trong khi vốn đầu tư thực tế của 1 ha là từ 14 đến 18 triệu đồng.  

Cũng vì vậy, 41 hộ xã viên hợp tác xã Hợp Tiến, xã Ea Tam, huyện Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc, chỉ trồng được 10 héc ta xoan sau hơn 1 năm được nhận khoán 500 héc ta đất để trồng rừng. Nếu cứ với tiến độ này, phải sau…. 50 năm, rừng mới được phủ kín trên diện tích đã giao. 

Tiềm năng của liên kết

Nhưng hợp tác xã Hợp Tiến đã tìm được lối ra khi ký hợp đồng liên kết trồng rừng với Công ty Tân Phước Thịnh. Công ty này cam kết hoàn trả toàn bộ chi phí người dân đã đầu tư làm đường vào khu vực trồng rừng, hoàn trả tiền đã đầu tư trồng 10 héc ta xoan; đầu tư toàn bộ chi phí để trồng rừng; trả lương, đóng bảo hiểm xã hội cho xã viên nhận chăm sóc-bảo vệ rừng và ăn chia sản phẩm sau mỗi chu kỳ khai thác.  

Doanh nghiệp này còn dự tính sẽ mở mộ cơ sở sơ chế gỗ tại chỗ, nếu vùng nguyên liệu được mở rộng. Xưởng này vừa giúp giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ, vừa giúp doanh nghiệp giảm được chi phí, do không phải chở gỗ thô cồng kềnh về các cơ sở sản xuất tại tỉnh Bình Định. 

“Về cá nhân tôi, tôi cho rằng, mô hình liên kết như thế này là rất đúng”- Ông Hà Công Bình, Chi cục trưởng Chi cục Lâm Nghiệp Đắc Lắc nhận xét. “Chúng tôi cũng mong các doanh nghiệp khác, có điều kiện về vốn, kỹ thuật, để hỗ trợ người dân trồng rừng. Vấn đề chúng tôi quan tâm hiện nay là làm sao để đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho người dân tham gia trồng rừng, thông qua việc các doanh nghiệp trả lương hàng tháng cho bà con. Sau đó sản phẩm được ăn chia. Mức phổ biến hiện nay là sau khi trừ toàn bộ chi phí thì bà con được 3 phần, doanh nghiệp được 7 phần”. 

Liên kết với các doanh nghiệp ngành giấy và sản xuất đồ gỗ như Trường Thành, Tân Mai, Tân Phước Thịnh, hiệu quả không chỉ ở dạng tiềm năng-tương lai mà đã được chứng minh bằng thực tế. Lâm trường Thanh Niên (Đak Min-Đak Nông) liên kết với Công ty giấy Tân Mai trồng gần 70 héc ta rừng, kết thúc một chu kỳ kinh tế (6 năm), Lâm trường được chia gần 1 tỷ rưỡi đồng lợi nhuận. Nếu người dân góp đất liên kết trồng rừng với Tân Mai, lợi nhuận được chia sau mỗi chu kỳ, ít nhất cũng là 15 triệu đồng/1héc ta. 

Còn theo một đại diện của Tân Phước Thịnh, rừng gỗ to để sản xuất đồ gỗ, tuy chu kỳ kinh tế kéo dài (8 đến 10 năm), nhưng tỷ suất lợi nhuận thu được sẽ vượt trội so với rừng nguyên liệu giấy, người dân sẽ có lợi hơn khi liên kết trồng loại rừng này.  

Ngoài rừng keo lấy gỗ là loại chủ lực, Tân Phước Thịnh đang triển khai thí điểm một dự án trồng Paulownia tại huyện Chư M’Gar (Đắc Lắc), khép kín từ trồng rừng đến xuất khẩu đồ gỗ. Nếu mô hình này thành công, việc liên kết trồng Paulownia của đơn vị này tại Tây Nguyên sẽ được mở rộng. 

Các tỉnh trong khu vực đang rất đề cao vai trò của người dân trong việc bảo vệ-phát triển rừng. Liên kết trồng rừng với các doanh nghiệp sẽ là cách để rừng được trồng nhanh nhất, đảm bảo đời sống hàng ngày và lợi ích lâu dài của họ. 

Nguy cơ từ sự lỏng lẻo pháp lý 

Chỉ một điều có thể làm xấu đi mối quan hệ liên kết, đó là sự lỏng lẻo về mặt pháp lý của các hợp đồng đã ký giữa người dân và doanh nghiệp. Không có một cơ quan, đơn vị Nhà nước nào tư vấn cho người dân về những điều cần lưu ý trong các hợp đồng liên kết. Hầu hết các hợp đồng liên kết trồng rừng của các công ty với người dân đều có các cụm từ mập mờ trong các điều khoản về phân chia lợi ích và thiếu những điều khoản ràng buộc doanh nghiệp chặt chẽ hơn. Đáng chú ý nhất là điều khoản “ăn chia bằng cách chia lợi nhuận” thường thấy trong các hợp đồng. Với điều khoản này, doanh nghiệp có thể hạch toán một mức lợi nhuận tuỳ thích, thậm chí bằng 0. Và khi ấy, phần được chia của người dân sau một chu kỳ kinh tế là rất ít, thậm chí không còn gì.  

Người dân cũng không thể tự bảo vệ mình, vì không có điều khoản ràng buộc khi doanh nghiệp khai thác, cần phải được sự đồng ý của họ và đặt dưới sự giám sát của cơ quan chức năng. Thiếu điều khoản này, doanh nghiệp sẽ tuỳ ý khai thác, đo đếm, vận chuyển đi theo ý thích của mình, để lại phần thiệt cho người dân. 

Đây chính là điều đang diễn ra giữa Công ty Lâm Nghiệp Krông Bông (Đắc Lắc) và một số hộ dân ở dân xã Hoà Phong, huyện Krông Bông. Khi công ty này lấy xong phần của mình, 150 hộ dân tham gia liên kết hầu như không còn gì. Tiềm năng liên kết ở Tây Nguyên còn rất lớn. Nhưng nếu chính quyền địa phương, cách ngành chức năng thiếu quan tâm, triển vọng của các mối quan hệ liên kết sẽ biến thành thất vọng, gây nên những hậu quả xấu./.

Mời quý độc giả theo dõi VOV.VN trên
Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.